CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" (1)

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!”

(1)

Bách Linh

oo0oo

Con rắn Đỏ vô cùng hung hiểm

Lạy lục Nga Tầu không nề điếm nhục

Con rắn Hồng dù lột xác cũng không

Thoát khỏi lưới trời lồng lộng mênh mông.

Lẽ cùng thông huyền bí vô cùng……

Có những con người giả đui, điếc thầm câm

Song rất thính và nhìn xa rất tốt.

Tập thơ Vô Đề & Khuyết Danh

Nực cười cho lũ bàng quan

Cờ tan lại muốn hai hàng sang xe,

Lại còn áo mũ xum xoe

Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.

Thôi thôi mặc lũ thằng hề!

Gió mây ta lại đi về gió mây

Cơ Bút của Linh Mẫu Chúa Liễu

o0o

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hoạt động nằm vùng đánh phá các chính quyền quốc gia để tiếp tay hỗ trợ cho Cộng sản. Thích Minh Châu cầm đầu Phật Học Viện Vạn Hạnh, chuyên môn đào tạo cán bộ công an sư quốc doanh để làm “giám tự” cai quản các chùa chiền quốc doanh. Cần phải tiêu diệt đảng viên cán bộ Cộng sản trá hình làm sư quốc doanh cùng lúc với sự tiêu diệt chế độ và đảng Cộng sản.

1. Năm 1963 đến 1975, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đã đánh phá Quốc Gia và chính quyền miền Nam bằng đủ kiểu, đủ cách, bằng vũ trang, nội chiến, đảo chính, nằm vùng cho đến khi miền Nam sụp đổ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trong hai tháng 3 và 4 năm 1975 và cho đến sáng ngày 30/4/1975, tăng ni GHPGVNTN từ Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Đà Lạt, Cần Thơ; những Miền Vạn Hạnh, Vĩnh Nghiêm và Ấn Quang đã cầm cờ Phật giáo ra đón bộ đội Cộng sản Bắc Kỳ từ Huế vào đến Sài Gòn, Cần Thơ, để chiếm miền Nam.

Sau ngày 30/4/1975, GHPGVNTN đã “hiện nguyên hình” là đảng Cộng sản trá hình, hay là một công cụ gián điệp, nằm vùng, đặc công Cộng sản, cực kỳ nguy hiểm cho Tổ Quốc Việt Nam.

Năm 1990, Cộng sản Đông Âu rồi Liên Xô sụp đổ. GHPGVNTN quýnh quáng, cuống cuồng âm mưu trở lại thành “Đạo Phật” và xóa bỏ vết tích Đảng Cộng sản. Nhưng hỡi ơi! Các thành tích hoạt động Cộng sản thắng lợi vẻ vang của GHPGVNTN đã đi vào lịch sử. Nhân dân Việt Nam cũng đặt cho cái tên “quốc doanh Cộng sản”. Lại còn chức tước địa vị trong Mặt Trận Tổ Quốc và Trung Ương Đảng Cộng sản và các cấp bậc quan trọng trong Tổng Cục Phản Gián… thì làm sao xóa bỏ?

Sau cuộc đảo chính và Tổng Thống Diệm bị giết chết ngày 2/11/1963; Liên Phái Phật Giáo họp tại chùa Xá Lợi hai ngày 31 tháng 12/1963 và 1 tháng 1/1964 để “thống nhất” thành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN). Sau đó tăng ni quốc doanh xúc tiến mọi hoạt động và kế hoạch tranh đấu chính trị và bạo lực thật nhanh để đuổi Mỹ và cướp chính quyền trước khi tình hình quân sự chuyển mạnh và Mỹ có thể mang quân vào miền Nam.

Ngày 14/1/1964, Chủ tịch nước Dương Văn Minh ký giấy phép hoạt động cho GHPGVNTN. Hai ngày sau, Dương văn Minh ra lệnh thả hết tù Cộng sản. Trong số này có gián điệp nằm vùng Vũ Ngọc Nhạ ở trong tổ tình báo chiến lược bí số A-22, thiếu tướng Bảy Liếm, chỉ huy Biệt Động Nội Thành Sài Gòn Ờ Chợ Lớn, Một đội đặc công chuyên ám sát và phá hoại.

Người Mỹ hoảng hồn vì thấy Thích Trí Quang các tăng ni của GHPGVNTN ra tay quá nhanh, muốn đảo chính luôn cả Hoa Kỳ! Họ liền mời tướng Nguyễn Khánh từ Quân Đoàn 2 về Sài Gòn làm một cuộc đảo chính, sau gọi là Chỉnh Lý; ngày 30/1/1964, để lật đổ Dương văn Minh và dẹp bỏ các tướng thân với GHPGVNTN Ấn Quang như Đỗ Mậu, Tôn Thất Đính và các tướng thân Pháp như Trần văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê văn Kim. Chính trong dịp này, người Mỹ đã biết rõ Dương văn Minh là Cộng sản nằm vùng là tay sai, dưới quyền chỉ đạo của Thích Trí Quang. Nhưng họ tính có thể lợi dụng được Minh bằng cách giả bộ như không biết gì!

Thích Trí Quang và tập thể tăng ni GHPGVNTN tức tối lồng lộn như điên cuồng. Chúng thấy lật đổ Tổng Thống Diệm thành công và sắp cướp chính quyền chiếm được miền Nam đến nơi, mà nay bị người Mỹ làm cho hư hỏng hết. Chúng liền chỉa mũi dùi tấn công vào chính quyền miền Nam và người Mỹ bằng biểu tình, tranh đấu, xuống đường, kể cả xúi dục quân đội ly khai nội chiến.

2. Một số tài liệu dưới đây được trích từ cuốn “Việc Từng Ngày” của học giả Đoàn Thêm. Tác giả xin cảm tạ học giả Đoàn Thêm đã có công ghi chép nhiều sự kiện lịch sử.

Ngày 27/3/1964, Thích Trí Quang ra lệnh thành lập “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” tại Huế và ra báo Lập Trường Đấu Tranh. Sau đó lại lập thêm Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng (LLTTCM), nhằm đấu tranh vũ trang bạo động cho đến khi chiếm được vùng Thừa Thiên-Huế với sự hỗ trợ của lực lượng quân đội Bắc Việt từ bên kia vĩ tuyến 17, chỉ cách Huế khoảng 100 cây số. LLTTCM đã hoạt động bí mật từ trước, nhưng đến nay mới ra công khai.

Thích Trí Quang cũng xúi dục được một số sĩ quan và quân đội, cảnh sát VNCH, kể cà Thị Trưởng Đà Nẵng, theo về phe nổi loạn của y. Chính nhờ số quân nhân vũ trang này mà cuộc tranh đấu đánh phá chính quyền Quốc Gia đã trở thành nội loạn, nội chiến, như Thích Trí Quang mong muốn. Y muốn chứng tỏ với Hoa Kỳ và thế giới rằng miền Nam hoàn toàn bất ổn và ung thối chính trị và nhân dân không ủng hộ chính quyền Quốc Gia . Chính quyền Quốc Gia hoàn toàn bất lực, không được lòng dân và không đủ khả năng cai trị.

Ngày 20/11/1964, các sư GHPGVNTN Thích Trí Quang, Thích Tâm Châu, Thích Pháp Tri, Thích Thiện Hoa khởi sự tuyệt thực để kích động phật tử biểu tình kéo đến trước tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn với khẩu hiệu “Hãy để cho dân tộc Việt Nam tự quyết”.

Đêm 23/11/1964, LLTTCM chỉ huy một đoàn biểu tình gồm thanh niên, sinh viên phật tử kéo đến Phòng Thông Tin Mỹ tại Huế và đốt cháy Thư viện Mỹ với hơn 5,000 cuốn sách. Phó Lãnh sự Mỹ tại Huế Anthony Lake ( sau này là cố vấn An Ninh cho Tổng Thống Bill Clinton ), đến chữa cháy cũng bị ném đá.

Ngày 8/3/1965, trong khi các toán quân Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ Đà Nẵng thì thượng tọa Thích Quảng Liên “thuyết pháp” ở chùa Ấn Quang giải thích về chủ trương của phong trào Bảo Vệ Hòa Bình và hạnh phúc dân tộc: các lực lượng Bắc Việt phải rút về Bắc, các lực lượng Mặt Trận Giải Phóng miền Nam giải giới và chấm dứt chiến tranh, quân đội Mỹ phải rời khỏi Việt Nam, vấn đề thống nhất Việt Nam sẽ do dân tộc Việt Nam tự giải quyết.

Ngày 9/4/1965, hội thảo tại Dinh Gia Long Quốc Trưởng, Thủ Tướng, Chủ Tịch Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp về cuộc khủng hoảng chính trị do GHPGVNTN Ấn Quang gây ra.

Hơn 3 tháng sau khi quân đội Mỹ đổ bộ thì người Mỹ mạnh tay thành lập chính quyền quân sự. Ngày 14/6/1965, Hội Đồng Quân Lực thành lập một chính quyền quân sự do Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia “tổng thống”. Thiếu tướng quân sự Nguyễn cao Kỳ giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương “thủ tướng”. Thích Trí Quang và GHPGVNTN tức tối, giận dữ như điên cuồng. Nhưng cũng phải sang đầu năm 1966 GHPGVNTN mới được… Mỹ (?) bật đèn xanh, cho phép tranh đấu mạnh mẽ để đuổi Mỹ và gọi đó là hình thức tranh đấu dân chủ!

Thích Trí Quang không biết cái bẫy chính trị đa diện, nhiều mặt của người Mỹ. Thích Trí Quang cũng không hiểu ẩn ý chiến lược của người Mỹ. Người Mỹ bật đèn xanh cho Trí Quang tha hồ đánh phá chính quyền Quốc Gia và người Mỹ. Nhưng đồng thời họ cũng quan sát thái độ và hoạt động Cộng sản và chống Mỹ, chống người Quốc Gia của GHPGVNTN Ấn Quang.

Từ ngày 21/3/1966, các sinh viên, học sinh và phật tử của GHPGVNTN ở Huế, Đà Nẵng biểu tình xuống đường liên miên để chống “quân phiệt” Nguyễn Cao Kỳ, chống Mỹ “can thiệp” vào nội bộ Việt Nam (đánh Cộng sản), và đòi thành lập chính phủ dân sự (theo ý kiến của GHPGVNTN).

Ngày 13/3/1966, Viện Hóa Đạo GHPGVNTN họp báo xác định lập trường và ra lệnh cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa: “các tướng nào có công với cách mạng (lật đổ Đệ Nhất Cộng Hòa và giết Tổng Thống Diệm) dù ở trong nước, ngụ ý các tướng Tôn Thất Đính, Trần văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê văn Kim hay ngoại quốc, ngụ ý Dương văn Minh, phải được trả lại quân đội để lập chính phủ đoàn kết!”

Ngày 23/3/1966, tại Huế, Đà Nẵng và nhiều tỉnh miền Trung xảy ra liên tiếp những vụ đình công bãi thị và bài Mỹ. Nhiều trụ sở Mỹ tại Huế đóng cửa đề phòng sự phá phách. Hàng vạn sinh viên và thanh niên biểu tình ở Huế dưới sự tổ chức và động viên của LLTTCM.

Ngày 28/3/1966, thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ hội đàm với các thượng tọa Thích Tâm Châu, Thích Thiện Minh và Thích Hộ Giác về việc thành lập cơ cấu dân chủ.

Ngày 31/3/1966. Giỗ Tổ Hùng Vương, GHPGVNTN Ấn Quang tổ chức biểu tình trước chợ Bến Thành chừng vài ngàn người. Gắn bảng đồng vào tượng Quách Thị Trang. Nhiều biểu ngữ chống chính phủ (Quốc Gia) và Hoa Kỳ như: Down with U.S. Obstruction, We Want Independence, Đả đảo chủ trương bóp nghẹt báo chí… Hình nộm các tướng Thiệu, Kỳ, Có bị treo lên pháp trường cát trước chợ Bến Thành.

Cùng ngày này, tại Đà Nẵng, Huế, vẫn có biểu tình tuần hành, với những biểu ngữ: Nước Việt Nam của người Việt Nam Ờ Người Mỹ gây rối cho nhân dân Việt Nam. Có khá nhiều binh sĩ và một số cảnh sát tham gia biểu tình.

Ngày 2/4/1966, sau buổi “thuyết pháp” của Đại đức Thích Hộ Giác tại Viện Hóa Đạo, vài trăm người biểu tình kéo đến Phủ Chủ Tịch đường Thống Nhất Sài Gòn và đài phát thanh đường Phan Đình Phùng (để cướp phá) nhưng bị binh sĩ ở đây ngăn cản. Nhóm biểu tình hô “Đả đảo Thích Tâm Châu”, “Hoan Hô Hồ Chí Minh”. Nhóm biểu tình ném đá vào cảnh sát và bị giải tán bằng lựu đạn cay.

Ngày nay, 1999, Đại Đức Thích Hộ Giác đã thành Hòa Thượng Thích Hộ Giác, hiện làm chủ chùa tại Houston, Texas, là Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Hải Ngoại, kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Điều hành Văn Phòng II, Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ.

Ngày 3/4/1966, thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ cho biết: “Thị trưởng Đà Nẳng (Bác sĩ Nguyễn văn Mẫn) đã dùng tiền công quỹ thuê người biểu tình (cho LLTTCM), lại dọa nạt dân chúng bắt họ phải đình công, bãi thị, sẽ bị bắt và xử tử.” Thủ tướng Kỳ còn giải thích sự có mặt của Hoa Kỳ và trả lời những người bị tuyên truyền bài Mỹ: Cộng sản (GHPGVNTN và LLTTCM) muốn ly gián để cô lập Việt Nam Cộng Hòa và làm nản lòng Đồng Minh.

Từ ngày 3 đến ngày 7/4/1966, LLTTCM tổ chức sinh viên và thanh niên phật tử biểu tình tại Sài Gòn, Đà Nẵng và Huế hô to khẩu hiệu “Đuổi Mỹ về nước! Phản đối Mỹ can thiệp vào Việt Nam.”

Ngày 4/4/1966, LLTTCM biểu tình đốt cháy đài phát thanh Đà La.t. Buổi tối chừng 500 người từ đường Trần Quốc Toản (Viện Hóa Đạo kéo đến Bộ Thông Tin nhưng bị giải tán bằng lựu đạn cay mắt. Sau đó họ kéo đến nhà Văn Hóa đường Tự Do nhưng cũng bị giải tán. Họ đốt một xe jeep quân đội tại đường Cao Thắng.

Ngày 5/4/1966. Tại Huế và Đà Nẵng, nhiều người với dao gậy của LLTTCM chận đường vào thị xã Đà Nẵng. Bác sĩ Mẫn, thị trưởng Đà Nẵng, đóng bản doanh tại chùa Phổ Đà, có 400 binh sĩ ly khai theo LLTTCM bảo vệ. Máy bay chính phủ lượn trên thành phố rải truyền đơn kêu go.i. Dưới đất, các chùa rung chuông báo động inh ỏi. Dân chúng Đà Nẵng bị xách động đã chuẩn bị dao búa, gậy gộc chống lại quân chính phủ. Hoa Kỳ đã cho di tản các cơ quan nằm trong thị xã.

Cùng ngày 5/4/1966, bác sĩ Nguyễn văn Mẫn, thị trưởng Đà Nẵng, bị cách chức và thay thế bằng trung tá Mã Sanh Nhơn, tỉnh trưởng Bình Long.

Ngày 6/4/1966, nhiều sinh viên Huế được sư đoàn 1 Bộ Binh (thiếu tướng Phan Xuân Nhuận chỉ huy), huấn luyện tập bắn, phòng thủ Huế chống quân đội chính phủ.

Ngày 8/4/1966. Các nhóm tranh đấu ở Huế (LLTTCM) tuyên bố không thừa nhận những điểm thỏa hiệp giữa Viện Hóa Đạo và chính phủ và nhất định đòi hỏi chính phủ Nguyễn Cao Kỳ phải rút lui.

Ngày 8/4/1966. Thứ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ William Bundy tuyên bố: “Thượng tọa Thích Trí Quang đang muốn thao túng chính trường Việt Nam song mục đích không rõ rê.t.” (ông Bundy ngụ ý Thích Trí Quang giấu kỹ dụng ý hoạt động tranh đấu cho Cộng sản của y.)

Ngày 8/4/1966. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất lập “Ủy Ban Tranh Đấu Chống Chính Phủ (Quốc Gia)”. Thượng tọa Thích Thiện Minh thông cáo: “Các tướng lãnh nhất là tướng Nguyễn văn Thiệu không giữ lời cam kết (với GHPGVNTN nên Phật giáo (GHPGVNTN) phải chống đến cùng, dù phải đổ máu!”

(Nhà chùa quốc doanh GHPGVNTN chắc bị tướng Thiệu hứa cuội cho qua nên mới cay cú thế. Không biết tướng Thiệu lúc đó có hứa cho tiền không, nhưng các tướng Nguyễn Khánh đã cho Thích Trí Quang (10 triệu đồng), tướng Kỳ đã cho Thích Trí Quang (50 triệu), và Ngô Đình Cẩn, em út ông Diệm, đã giúp đỡ Thích Trí Quang rất nhiều, kể cả việc cứu y cho ở lại Huế, thay vì bị giải ra Bắc cùng với nhóm Phong Trào Hòa Bình. Là một cán bộ cao cấp và cực kỳ trung kiên của Cục Phản Gián Hà Nội nên Thích Trí Quang đã nhận tiền nhưng vẫn phản bội tất cả những người đã giúp y và lấy lòng y. Cá tính của cán bộ Cộng sản là gian ngoan, phản bội, lật lọng, nuốt lời hứa và tàn bạo giết luôn cả những người cho chúng ăn, cho chúng tiền và tử tế với chúng. Ngạn ngữ Mỹ có câu: “Con chó cắn cái bàn tay cho nó ăn”! Câu này biểu lộ cá tính của Thích Trí Quang và tập thể sư quốc doanh GHPGVNTN.)

Ngày 9/4/1966, trung tướng Tôn Thất Đính được cử ra Huế thay thiếu tướng Nguyễn văn Chuân làm tư lệnh vùng I và đại biểu chính phủ tại Huế.

Ngày 17/4/1966, Thích Trí Quang bay từ Sài Gòn ra Huế để trực tiếp chỉ đạo cuộc tranh đấu của LLTTCM hoạt động mạnh mẽ tại Huế và Đà Nẵng.

Cùng ngày 17/4/1966, để lập thành tích dâng lên Thượng tọa chính ủy Thích Trí Quang, Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng ở Huế và Đà Nẵng đã bắt giữ tỉnh trưởng Quảng Nam Nguyễn Hữu Chí cùng quận trưởng Hòa Vang và một số người được coi là thân chính quyền Quốc Gia .

Ngày 16/5/1966, tướng Đính vắng mặt không có lý do, bỏ nhiệm sở cũng có nghĩa là đào ngũ trong thời chiến. Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ phải điều tướng Huỳnh văn Cao ra thay tướng Đính. Ngày 17/5/1966, khi trực thăng chở tướng Huỳnh văn Cao vừa đáp xuống thì một thiếu úy phật tử (Nguyễn Đại Thức) cầm súng bắn. Viên thiếu úy này bị xạ thủ trực thăng người Mỹ bắn hạ ngay tại chỗ.

Hai ngày sau, ngày 18/5/1966, Thích Trí Quang ra lệnh cho mấy ngàn sinh viên, phật tử khiêng xác thiếu úy Thức đi khắp thành phố Huế để biểu tình tuần hành đả đảo người Mỹ là đã giết thiếu úy Thức, để gây căm thù với Hoa Kỳ. Một máy bay quan sát L-19 bị quân đội ly khai theo GHPGVNTN bắn trúng tại Đà Nẵng và bắt buộc phải hạ cánh xuống bãi cát.

Ngày 20/5/1966, Chính phủ ra lệnh hai tướng Nguyễn Chánh Thi và Tôn Thất Đính phải ra trình diê.n. Tướng Phan Xuân Nhuận, tư lệnh sư đoàn I Bộ Binh, phải dứt khoát tư tưởng (theo hay không theo LLTTCM?).

Ngày 20/5/1966. Buổi sáng, quân chính phủ và quân “tranh đấu” từ chùa Tỉnh Hội, Đà Nẵng, nổ súng. Một số chết và bị thương trước chùa.

Ngày 20/5/1966. 52 quân nhân “tranh đấu” về trình diện với vũ khí. 5 ổ súng của phe tranh đấu đã bị phá hủy.

Thượng tọa Thích Trí Quang lại kêu gọi TT Johnson can thiê.p. Lực Lượng Tranh Thủ đòi Thủy Quân Lục Chiến Mỹ can thiệp bênh vực họ, nếu không sẽ phá phi trường Đà Nẵng.

Thượng tọa Thích Trí Quang đòi: Chính phủ phải rút quân khỏi Đà Nẵng (cho chúng chiếm); thiếu tướng (Thủ Tướng) Nguyễn Cao Kỳ phải từ chức ngay.

Ngày 21/5/1966. Cảnh sát tịch thu nhiều truyền đơn đòi thượng tọa Thích Trí Quang lên làm Quốc Trưởng và giáo sư Trần Quang Thuận làm Thủ Tướng.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, có bắt được 4 Việt cộng với súng lục trong đám biểu tình trước Viện Hóa Đa.o.

Số thanh niên, thiếu nhi biểu tình 3 lần quanh Viện Hóa Đạo, ném đá vào cảnh sát, bị giải tán bằng lựu đạn cay. Đám biểu tình đốt lốp xe cũ để ngăn chận cảnh sát và đốt cả 2 xe của Mỹ ở đường Trần Quốc Toản.

Ngày 22/5/1966. Phật tử biểu tình nhiều lần trước Viện Hóa Đạo và xung đột với cảnh sát. Nhiều đơn vị Nhảy Dù và TQLC phải tới tăng cường lực lượng an ninh và bao vây khu Trần Quốc Toản, Sài Gòn.

Tại Đà Nẵng, hai bên vẫn nổ súng. Một số chết vì bị thương tại khu chùa Phổ Đà. 30 nhà báo ngoại quốc bị nhóm nổi dậy (LLTTCM) bắt làm con tin, song một số chạy thoát.

Phi trường Đà Nẵng bị phe nổi dậy bắn phá: một phi cơ bị hư hại, vài lính Mỹ bị thương. Nhiều phi cơ Mỹ tạm dời đi căn cứ khác. Giới quân sự Mỹ tuyên bố sẽ dùng vũ lực tự vệ nếu bị tấn công ở căn cứ Đà Nẵng.

Ngày 23/5/1966. 2 quân xa Mỹ chạy qua Viện Hóa Đạo Sài Gòn. Có tiếng súng nổ từ một đám đông đang biểu tình bắn vào quân xa Mỹ. Binh sĩ Nguyễn Văn Ngọc bị trúng đạn chết. Rất đông thiếu niên 14, 15 tuổi biểu tình ném đá vào cảnh sát và quân đội bị giải tán nhiều lượt bằng lựu đạn cay. Đại Tá Văn Văn Của, Đô trưởng Sài Gòn ra thông cáo kêu gọi các gia đình (Phật tử) giữ con em ở nhà, đừng để bị lôi cuốn đi biểu tình.

Ngày 23/5/1966. Nhóm nổi dậy LLTTCM tại chùa Tỉnh Hội, Đà Nẵng chịu buông súng. Hàng trăm binh sĩ trở về với quân đội. Hàng ngàn súng các loại tìm thấy trong chùa với 30 xác chết sặc mùi hôi thối. 4 phóng viên UPI và UP được giải thoát. Bác sĩ Nguyễn văn Mẫn, Thị trưởng Đà Nẵng ly khai theo Giáo Hội PGVNTN bị bắt và bị giải về Sài Gòn. Theo Chuẩn tướng Dư Quốc Đống, phía quân đội có 20 người chết và hơn một trăm bị thương trong vụ dẹp nổi dậy trong tuần qua.

Ngày 25/5/1966. Thượng tọa Thích Trí Quang lần thứ ba yêu cầu Tổng Thống Johnson và Quốc hội Mỹ ủng hộ GHPGVNTN Ấn Quang và “đừng” ủng hộ chính phủ Nguyễn Cao Kỳ nữa.

Tội nghiệp cho Thích Trí Quang! Lạy Mỹ đến 3 lần mà Mỹ vẫn không thèm nghe “lệnh” của ngài thượng tọa. “Ngài” Trí Quang tức mình liền ra lệnh cho phật tử làm dữ, tự thiêu và đánh phá tòa Lãnh sự Mỹ.

Vài ngàn người cả công chức và quân nhân biểu tình tại Quảng Ngãi đòi rút quân quốc gia khỏi Đà Nẵng, chống Cộng và tri ân Hoa Kỳ. Tướng Nguyễn Hữu Có nói đại tá Đàm Quang Yên và thiếu tá Tôn Thất Tường là hai người nhận lệnh Thích Trí Quang cầm đầu vụ nổi loạn Phật giáo Đà Nẵng bị bắt và bị đưa về Sài Gòn.

25/5/1966. Đại đức Thích Nhất Chí bị cảnh sát bắt đã cung khai là cán bộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tu ở Bạc Liêu và có nhiệm vụ sửa soạn chiến dịch “Nước Lũ” của Việt cộng, kéo phật tử ùa về Sài Gòn cướp chính quyền.

Ngày 26/5/1966. Sinh viên Huế (trong LLTTCM) biểu tình bài Mỹ; đốt phòng Thông Tin Mỹ và Thư Viện với vài ngàn cuốn sách. Ngoại trưởng Trần văn Đỗ gởi thư cho Bộ Ngoại Giao Mỹ ngỏ ý rất tiếc vụ đốt phòng Thông Tin Mỹ ở Huế.

Ngày 27/5/1966. 76 sư tăng và 39 ni cô tuyệt thực 48 giờ trước tòa Lãnh Sự Mỹ, Huế và trao một huyết thư viết bằng mảnh tre để chuyển cho TT Johnson. Thư này đòi TT Johnson rút quân Mỹ để khỏi đổ máu người Việt Nam (Việt Cộng) nữa.

Trung tá Phan văn Khoa, Thị trưởng Huế đem 1 ngàn quân “trung thành” (với chính phủ) ra đóng tại quận Hương Thủy và bị các đoàn thanh niên LLTTCM phản đối.

75 thường dân Mỹ tản cư khỏi Huế vì bị LLTTCM đe dọa.

Ngày 27/5/1966. Viện Hóa Đạo biểu quyết và thông cáo: Từ nay tập thể chỉ huy (theo lối Cộng sản), Viện trưởng Thích Tâm Châu chỉ là người thừa hành. TT Thích Tâm Châu từ ngày 15/5/1966 không gởi điện văn can gián gì trái với tin đăng trên VN Press và các báo.

Đây chính là một cuộc đảo chính Thích Tâm Châu. Bọn sư Cộng sản nghĩ rằng Thích Nhất Chí bị bắt là do phe Thích Tâm Châu báo cho cảnh sát bắt. Từ điểm này Giáo Hội PGVNTN chia làm hai phe gọi là Việt Nam Quốc Tự do Thích Tâm Châu cầm đầu, và Ấn Quang do Thích Trí Quang, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Quảng Liên… chỉ huy.

Gần 30 năm sau, ngày 26/6/1994, hai phe kết hợp lại tại Calgary, Canada ký kết giữa Thích Tâm Châu và Thích Hộ Giác.

Ngày 29/5/1966. Sáng nay ni cô Thích Nữ Thanh Quang, 55 tuổi, tự thiêu trước chùa Diệu Đế, Huế, để phản đối TT Johnson không chịu rút sự ủng hộ chính phủ Nguyễn Cao Kỳ. Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tỏ ý buồn tiếc về vụ tự thiêu của ni cô Thanh Quang.

Ngày 1/6/1966. Sinh viên thuộc lực lượng Tranh Thủ Cách Mạng Huế tràn tới đốt tòa Lãnh sự Mỹ. Nhân viên Mỹ đã rút lui từ trước vào căn cứ MACV và phi trường Phú Bài.

Một xe jeep của quân nhân Mỹ chạy qua Viện Hóa Đạo đã bị đốt cháy trước Viện.

Tại Viện Hóa Đạo, Sài Gòn, mặt dù có lời “can gián” của Đại Đức Thích Hộ Giác, trên ngàn người vẫn kéo đi biểu tình tối nay và bị cảnh sát giải tán. Thượng tọa Thích Pháp Siêu, Phó Vụ Trưởng Vụ Thanh Niên, phản đối giải pháp “ôn hòa” của Thượng tọa Thích Tâm Châu và toan tự thiêu “ngay” nhưng “được” phật tử ngăn chận.

(Sau khi mang cờ Phật giáo ra đón bộ đội Cộng sản vào chiếm miền Nam ngày 30/4/1975, cho đến ngày nay 1975, Thượng tọa Thích Pháp Siêu GHPGVNTN đã hoàn toàn “ôn hòa”. Ta không bao giờ thấy các “ngài” Pháp Siêu, Huyền Quang, Quảng Độ, Trí Quang, Minh Châu, và các “ngài” sư quốc doanh GHPGVNTN khác mang bàn thờ Phật xuống đường hoặc tự thiêu tranh đấu “chống” Cộng! Phải chăng vì Cộng sản là “phe ta” chăng?)

Ngày 3/6/1966. Lễ Phật Đản không được tổ chức trọng thể như mọi năm theo chỉ thị của Viện Hóa Đa.o. Không thấy treo đèn và cờ Phật giáo.

Ngày 3/6/1966. Đại đức Thích Nhất Hạnh do các tổ chức Hòa Bình Mỹ mời sang Hoa Kỳ đã tuyên bố chủ trương 5 điểm của Phật giáo: Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ chức, quân đội Mỹ rút lui, ngừng oanh tạc Bắc Việt, Mỹ phải giúp lập chánh thể “dân chủ” và tái thiết miền Nam không điều kiện.

Ta thấy ngay sự hỗn láo và tham lam lố bịch của Thích Nhất Hạnh. Vừa ra điều kiện Mỹ rút, lại đòi Mỹ phải giúp sư quốc doanh lập chính thể dân chủ kiểu Cộng sản, rồi lại đòi Mỹ phải chi tiền viện trợ tái thiết “không điều kiện”!

Ngày 3/6/1966. Một nhóm tăng ni phật tử phản đối chánh sách ôn hòa của Thượng tọa Thích Tâm Châu. Thượng tọa Thích Tâm Châu từ chức cùng với Đại Đức Thích Hộ Giác.

Ngày 3/6/1966. Thượng tọa Thích Trí Quang ở Huế cải chính các tin theo đó quân đội chính phủ đã tái chiếm và kiểm soát Huế, đồng thời tuyên bố tẩy chay cuộc bầu cử do chính quyền Nguyễn Cao Kỳ sắp tổ chức.

Mục đích của Thích Trí Quang chỉ là gây xáo trộn bạo động. Do đó y phải chống đối bất cứ điều gì chính phủ quốc gia thi hành. Vì nếu đồng ý, thỏa thuận thì không còn lý do để đánh phá tranh đấu nữa.

Thích Tâm Châu phải từ chức vì nhà sư này “không phải cán bộ Cộng sản trung kiên”, không hiểu âm mưu Cộng sản của phe Thích Trí Quang, nên đã thật thà ngay tình muốn thỏa hiệp với chính phủ quốc gia. Do đó Thích Tâm Châu bị loại. Thích Hộ Giác vẫn trung thành với Thích Trí Quang và GHPGVNTN từ ngày đó cho đến nay (1999…)

Ngày 3/6/1966. Ni cô Thích Nữ Bảo Luân, người Huế, 24 tuổi, tự thiêu tại sân Viện Hóa Đạo lúc 2 giờ 30 sáng.

Ngày 3/6/1966. Theo tạp chí Time, uy tín của TT Johnson bị giảm sút, còn được 55%. Hiện nay chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam bị công kích càng dữ, và 54% dân chúng Mỹ, theo viện Thống Kê Gallup, đòi hỏi Mỹ rút quân nếu có nội chiến tại Việt Nam.

Tăng ni quốc doanh GHPGVNTN đã thành công phần nào khi khích động phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ và khiến cho dư luận Mỹ đòi Mỹ phải rút quân. Nhưng biết đâu người Mỹ đã lợi dụng chúng để đưa Cộng sản lao đầu vào cái bẫy sập miền Nam năm 1975?

Ngày 5/6/1966. Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm và Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận họp báo tại Đà Nẵng và cho biết: Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng của Bửu Tôn đã nộp 320 vũ khí. Trung tá Khoa tái lập an ninh Huế, các chùa bỏ ngỏ, 3,000 quân với chiến xa đã từ Đà Nẵng tới Huế.

Ngày 6/6/1966. Thượng tọa Thích Trí Quang vẫn phát động phong trào chống chính phủ (Quốc Gia) và kêu gọi phật tử đem các bàn thờ Phật bầy ra đường để chắn lối đi trong thành phố Huế.

Theo Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận Tư lệnh Sư đoàn 1 tại Huế, 8 lãnh tụ LLTTCM còn lẩn trốn, 72 người bị bắt trong đó có 52 quân nhân.

Ngày 7/6/1966. Các bàn thờ Phật vẫn bầy chật nhiều ngã đường và ngăn cản sự chuyên chở. Nhiều đám đông dân chúng đứng chắn không cho quân xa Mỹ di chuyển.

Thấy GHPGVNTN làm cho tình hình quá loạn dẫn tới nội chiến và ly khai trong khi quân đội Bắc Việt chuẩn bị tấn công vào thành phố, một thiếu tá an ninh quân đội đã có sáng kiến phải bắt Thích Trí Quang giải về Sài Gòn thì mới có thể ổn định tình hình. Lúc này chỉ có người Mỹ biết rõ ý đồ của Thích Trí Quang là chiếm vùng I để làm Thủ Đô và lãnh địa của “nước” Cộng sản Việt Nam. Ông đề nghị với Tướng Nguyễn Ngọc Loan để ông bắt Thích Trí Quang và giải về Sài Gòn. Tướng Loan chấp thuận ngay.

Ngày 21/6/1966, vị sĩ quan này đến bệnh viện Huế bắt Thích Trí Quang và nói có lệnh bắt y và giải về Sài Gòn. Thích Trí Quang ngơ ngác vì y không ngờ có người dám bắt y. Y hỏi lại: “Ai dám ra lệnh bắt tôi?” Sự bất ngờ khiến y lúng túng không biết đối phó ra sao. Vị sĩ quan nói nếu y bướng bỉnh thì buộc ông phải dùng võ lực. Sự sợ hãi vì tưởng rằng sẽ mang đi bắn, đã khiến Thích Trí Quang “vãi” ra đầy quần. Thích Trí Quang được “tôn” là đang “tuyệt thực” tại bệnh viện Huế. Xét ra thì y chẳng có tuyệt thực gì hết. Y vội xin phép viên sĩ quan này vào nhà tắm. Phải hơn nửa giờ sau y mới sạch sẽ và diu díu theo viên sĩ quan này lên máy bay vào Sài Gòn.

Về đến Sài Gòn, vị sĩ quan này giải Trí Quang đến bệnh viện bác sĩ Tài ở đường Duy Tân để tạm giam với tư cách chữa bệnh, trong khi cảnh sát vẫn canh gác ở bên ngoài. Nhờ giam lỏng được Thích Trí Quang ở Sài Gòn nên tình hình náo loạn và nổi loạn ở Huế và Đà Nẵng đã bị dập tắt. Một điểm đáng chú ý là khi Trí Quang bị bắt giải về Sài Gòn thì báo chí ngoại quốc biết ngay và họ đã đến phỏng vấn TT Thiệu. Ông Thiệu trả lời là ông không biết gì xảy ra và ông không hề ra lệnh bắt Thích Trí Quang. Ông Thiệu có vẻ sợ sư quốc doanh hơn là giận dữ vì bị qua mặt. Nhưng chuyện đã rồi và tình hình tại Huế, Đà Nẵng đã yên ổn trở lại. Vị sĩ quan này nói lại rằng sau chuyện đó, có một lần ông gặp một vài người Mỹ không quen biết, nhưng họ nháy mắt và nói với ông rằng “này, các ông sư thích ông lắm đấy nhé!”

Nhưng rồi các sư GHPGVNTN Ấn Quang cũng tìm ra vị sĩ quan này. Chúng thuê một người lính ám sát. Nhưng không may cho một thiếu tá cảnh sát, đúng ngày hôm đó (tháng 10/1968) lại mượn xe jeep của ông này và đã bị bắn chết trên xe. Vị sĩ quan bắt Thích Trí Quang sau này bị bắt giam tù học tập cải tạo hơn 10 năm. Năm 1993, ông sang Mỹ theo diện HO. Ông từ trần vì bệnh tháng 12/1999. Tên thật của ông là đại tá Chu văn Sáng.

Ngày 2/2/1968, trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân mới khởi đầu được 3 ngày, thì chùa Ấn Quang bị trúng đạn B-40 do Việt cộng bắn lầm và phát hỏa. Một tướng và 1 Thượng tá Việt cộng bị tử thương. Chùa Ấn Quang ở đường Sư Vạn Hạnh Sài Gòn là trụ sở chính của GHPGVNTN và là nơi Thích Trí Quang cư ngụ cho đến ngày nay. Chùa Ấn Quang đã được dùng làm Hành Dinh của Bộ Chỉ Huy Việt cộng để tấn công Sài Gòn, dưới quyền tư lệnh của các tướng Trần Độ, Cao Đăng Chiếm, Mai Chí Thọ….

Ngày 2/3/1968, cảnh sát Quốc Gia khám phá 6 hầm bí mật đã chứa chấp đặc công Cộng sản trong phòng ngủ của sư tăng tại tịnh xá Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ, đường Nguyễn Trung Trực, Gia Định.

Tập thể tăng ni GHPGVNTN quả là khôn khéo. Không tỏ vẻ ra mặt thân Cộng hay hoạt động Cộng sản. Nhưng chỉ đòi Mỹ rút quân là đương nhiên Cộng sản thắng! Hoạt động Cộng sản của chúng khá rõ rệt là trong thời gian từ 1963 đến 1975, chúng đánh phá các chính quyền Quốc Gia , nhưng không bao giờ đưa ra một nhân vật Quốc Gia nào để thay thế và lãnh đạo miền Nam chống Cộng.

Trong hai tháng 3 và 4/1975, tăng ni GHPGVNTN đã mang cờ Phật giáo ra đón quân đội Cộng sản tại Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh, Đà Lạt. Ngày 30/4/1975, tập thể sư tăng và cư sĩ, giáo sư, sinh viên, thanh niên phật tử GHPGVNTN, đại học Vạn Hạnh, Miền Vĩnh Nghiêm và các giáo hội phụ thuộc khác đã phấn khởi hồ hởi mang cờ Phật giáo ra đón bộ đội Cộng sản vào chiếm Sài Gòn và miền Nam.

Ngày 15/5/1975, khoảng 2,000 tăng ni GHPGVNTN đi diễn hành chiến thắng trước dinh Độc Lập cùng với bộ đội Cộng sản Bắc Việt. Đến tối ngày 15/5, trong tiệc liên hoan vĩ đại mừng chiến thắng tại khách sạn Majestic, Thích Trí Quang và Phật giáo Việt Nam Thống Nhất đã được thưởng huân chương Sao Vàng.

Thích Trí Quang và một số cán bộ cao cấp khác, trọc đầu và không trọc đầu, chánh phó Viện trưởng Hóa Đạo Ấn Quang, Vạn Hạnh, Vĩnh Nghiêm… cũng được thăng lên các cấp tướng công an gián điệp và phản gián.

Thích Trí Quang, Thích Huyền Quang, Viện trưởng Vạn Hạnh Thích Minh Châu được đặc cách thăng chức tướng công an phản gián. Vũ Ngọc Nhạ được phong thưởng quân hàm đại tướng phản gián 4 sao. Huỳnh văn Trọng thì trở thành Bí Thư Đảng phường I, quận I, thuộc khu vực đường Tự Do Sài Gòn.

Ngày 19/5/1975, để dương cao tinh thần Cộng sản, biểu dương lực lượng và ăn mừng đại thắng, Thích Trí Quang ra lệnh cho Thích Mãn Giác tổ chức mừng sinh nhật Hồ Chí Minh thật long trọng ngay tại khuôn viên chùa Ấn Quang. Khoảng 40,000 tăng ni Ấn Quang và phật tử đã tụ tập đông đảo và tràn ra ngoài chùa, đông nghẹt đường Sư Vạn Hạnh và tràn sang đường Minh Mạng, Lý Thái Tổ… (ngày nay Thích Mãn Giác đã vượt biên sang lập chùa tại Los Angeles, Hoa Kỳ, và xưng danh là Hòa Thượng Hội Chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam.)

* * *

Biến Đạo thành Đảng vì Đảng Cộng sản đã thành công, đại thắng. Các tăng ni Cộng sản không cần phải núp trong áo cà sa. Chúng công khai ra mặt làm sư công an cho chế độ. Người dân miền Nam gọi chúng là “mấy thằng trọc sư quốc doanh”.

Sau ngày 30/4/1975, GHPGVNTN Ấn Quang được coi là tổ chức đầu não Mặt Trận Tổ Quốc, nhưng lại được coi ngang bằng đảng Cộng sản và Mặt Trận Tổ Quốc. Phật giáo Việt Nam Thống Nhất được họp đại hội 5 năm một lần như Đảng Cộng sản và Mặt Trận Tổ Quốc.

Lần đầu, đại hội kỳ I họp tại chùa Quán Sứ Hà Nội trong hai ngày 4 và 5 tháng 11/1981 với 165 đại biểu của 22 giáo hội Phật giáo. Tại đại hội kỳ I, GHPGVNTN đã “cải tạo” và tiêu diệt 21 giáo hội Phật giáo khác, và chiếm đoạt toàn bộ chùa chiền, hơn 10,000 tự viện, trên toàn quốc cho đến ngày nay. Các vị chân tu bị đuổi ra khỏi chùa và về nhà tu tại gia. Chùa chiền do cán bộ sư công an quản lý, gọi là “giám tự” (Pagoda Managers). Đại hội kỳ I đã bầu Thích Đức Nhuận làm Tăng thống, Thích Trí Thủ làm Chủ ti.ch.

Năm 1984, Thích Trí Thủ chết, Thích Trí Tịnh thay thế.

Trong vấn đề thay thế các vị chân tu và chiếm giữ chùa chiền bằng sư công an, ta phải nhắc đến Đại lão Hòa Thượng Thích Minh Châu và tập thể đảng bộ Vạn Ha.nh. Minh Châu là đảng viên Cộng sản cốt cán từ năm 1943. Ngay từ lúc này, Cộng sản đã không bỏ qua Phật giáo. Minh Châu được cử đi Ấn Độ học về Phật giáo trong kế hoạch uyển chuyển “Biến Đảng thành Đạo Phật và Biến Đạo Phật thành Đảng”. Cán bộ công an phản gián của đảng sẽ tùy tiện cạo đầu làm sư. Các chùa chiền sẽ trở thành trụ sở hoạt động bí mật và ngoại vi của đảng Cộng sản.

Khi đảng Cộng sản nắm chính quyền thì GHPGVNTN Ấn Quang sẽ trở thành một thứ “quốc giáo” và là một tổ chức ngoại vi Cộng sản, nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc. Khi đảng không nắm chính quyền hoặc có thể bị lật đổ như trong thập niên 1990, sau khi đế quốc Cộng sản Liên Xô sụp đổ, thì GHPGVNTN Ấn Quang liền chuẩn bị biến Đảng thành Đạo. Đảng viên cao cấp nòng cốt sẽ cạo đầu giả sư trốn trong chùa. Chùa chiền sẽ trở thành trụ sở hoạt động từ bí mật đến công khai để đánh phá các chính quyền Quốc Gia cho đến khi cướp được chính quyền.

Năm 1964, sau khi TT Ngô Đình Diệm bị Trung tướng Dương văn Minh cầm đầu phe đảo chánh ra lệnh cho sĩ quan tùy viên của y là đại úy Nhung hạ sát, thì GHPGVNTN Ấn Quang công khai ra mặt đánh chiếm miền Nam. Đúng lúc này Thích Minh Châu trở về nước và thành lập Viện đại học Vạn Hạnh. Viện đại học Vạn Hạnh cũng là đảng bộ Cộng sản Vạn Hạnh với Nguyễn Trực làm “chính ủy” (Political Commissar). Đến năm 1970, Đoàn Viết Hoạt và vợ là Trần Thị Thức đi Mỹ về mới làm Phó Viện trưởng Vạn Hạnh cho Thích Minh Châu.

Viện Đại học Vạn Hạnh đã mau chóng trở thành cơ sở huấn luyện cán bộ Cộng sản từ các sinh viên. Cuối năm 1974, Thích Minh Châu và Nguyễn Trực đã có thể báo cáo ra Trung Ương Cục Miền Nam rằng chúng đã chuẩn bị xong 1 sư đoàn đặc công Vạn Hạnh với hơn 6,000 khẩu súng các loại và đạn dược với hơn 7,000 sinh viên và thanh niên phật tử. Sư đoàn đặc công này chuẩn bị chiến đấu trong thành phố, bắn vào sau lưng quân đội Việt Nam cộng hòa để tiếp tay cho bộ đội tiến công đánh vào thành phố Sài Gòn.

Sáng ngày 30/4, Thích Minh Châu, Nguyễn Trực, Đoàn Viết Hoạt và toàn bộ ban giảng huấn Đại Học Vạn Hạnh đã cầm đầu sư đoàn đặc công và cán bộ sư Cộng sản, đeo băng đỏ nơi cánh tay, và cầm cờ Phật giáo lên tận ngã tư Bảy Hiền đón quân đội Cộng sản.

Không khí đại học Vạn Hạnh, Miền Vĩnh Nghiêm và chùa Ấn Quang lúc này vui như tết, với các sư công an Cộng sản đeo súng kè kè, mặt mũi nghiêm trọng, canh gác, giữ an ninh trật tự khắp nơi, và mở đường, dẫn đường cho bộ đội Cộng sản vào chiếm đóng các cơ sở, các trọng điểm hành chính, quân sự, ngân hàng quan trọng trong thành phố.

http://www.chinhnghia.com/conduongdao.htm

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: